» Tin nóng
BÀI PHÁT BIỂU Tại lễ tặng kỷ niệm chương cho ông Osmo Tapani Buller,
Trao kỷ niệm chương cho ông Osmo Tapani Buller
Hoạt động của hai ông Osmo Buller và Clay Magalhaes tại Hà Nội.
Báo cáo về UK 95 và IJK 66
CHƯƠNG II: TUỔI THƠ Ở BJALISTOK
Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2010
Cuộc họp 6 tháng đầu năm của VEA
Quy chế Đại hội của UEA (1)
Quy chế Đại hội của UEA (2)
Những hoạt động đầu tiên của đ/c Hoàng Ngọc Bội
11/09/2010
Góc học tập
Sự tích con bạch tuộc và con chuột cống Nguồn: (26/01/2009) Lần đọc: 1665
Giới thiệu văn học dân gian Tân Calêđôni

 

 
 
 
 

LEGENDO PRI POLPO KAJ RATO
Knabo promenis sur marbordo, kiam li ekvidis maljunan viron, kiu ligis rondnigran ŝtoneton kaj ŝnuron. Li do mirigite alproksimiĝis kaj demandis respekteme :
- “ Hej, eminentulo, kial do ligas vi tiun ŝtoneton je ŝnureto?“ La maljuna viro lin rigardis, ridetante, kaj respondis : “Diable! por kapti polpon”.
- “ Ĉu vi kaptas polpon per ŝtoneto?” respondis skeptike la knabo.
- “Jes, sed ne per ia ajn ŝtoneto. Nur ŝtoneto simila je rato povas erarigi polpon. Vi do ne konas tiun legendon pri polpo kaj rato?”
- “Ne” respondis la knabeto.
- “Sidiĝu kaj aŭskultu” kviete diris la eminentulo.
- “Antaŭ tre longe, sur verdoplena insulo, pace vivis multaj bestoj. Fakte, preskaŭ pace, ĉar inter ili ankaŭ vivis rato, kiu daŭre kalumniadis aliajn bestojn. Ĝi senĉese diradis, ke ĝi estas plej inteligenta, kaj ke pro tio aliaj bestoj nepre devas ĝin vivteni. Ĝi estis tro inteligenta por labore sin nutri, tial ĝi ŝteladis ovojn, kiujn ĝi avide ensorbis, detruis nestojn kaj kuŝejojn, atakis idojn, fosis galeriojn kaj ronĝis radikojn.
Ĝi agis tiel aĉe, ke la insulo koleriĝis, kaj tondris; tondris tiel forte ke ekaperis vulkano kiu ekkraĉis fajron.
Ĉiuj bestoj forfuĝis al najbara insulo, ĉu flugante ĉu enakviĝante, krom la rato, kiu scipovis nek flugi nek naĝi. Ĝi plorpetis al aliaj bestoj ĝin kunpreni kun ili.
- “kunportu min al la najbara insulo ! kompatu min!”
- “Ĉu vi kompatis miajn ovojn?” Kaj kolombo forflugis ….
- “Testudo, lasu min grimpi sur vian dorson por iri al la najbara insulo.” »
- “Ĉiujare, vi detruis miajn nestojn, manĝis miajn ovojn kaj forpelis miajn idojn”.” Kaj la testudo enakviĝis.
La rato, terorizita, petadis al ĉiuj bestoj, flugantaj aŭ naĝantaj, ĝin helpi. Sed, ĉiuj rememoris la malbonecon de la rato, rifuzis kaj foriris. Ĉiuj krom unu. La polpo, kiu vivanta subakve neniam spertis kruelecon de la rato.
La rato ĝin ekvidis kaj petadis ĝian helpon. La polpo, kiu sciis pri la aĉa reputacio de la rato hezitis, sed tamen ĝi konsideris ke la rato nenion malbone faris al ĝi.
- “Ĉu vi promesas, ke vi, estontece, estos respektema al aliaj?” ĝi demandis al la rato.
- “Mi ja promesas” rapide respondis la rato.
- “Ekgrimpu do sur mian kapon. Mi kunportos vin al la najbara insulo.”
Tiel do farite. Sed, dum la tuta vojaĝo, ridegis la rato.
- “Kial do vi tiel ridas?”demandis la polpo.
- “Nur ĉar mi estas feliĉa, kunvojaĝi kun tia bela kaj nobla amiko kiel vi.”
La polpo naĝis, kaj la rato pli laŭte ridegis.
- “Kial do vi daŭre ridas?” denove demandis la polpo.
- Ĉar proksimiĝas la insulo, kaj pro tio mi estas feliĉa” respondis la rato.
La polpo alvenis al la plaĝo. La rato saltis, ridegis pli kaj pli laŭte, kaj diris al la polpo :
- “Ĉu vi deziras ekscii kial mi estas tiel ĝoja?”
- “Certe,” respondis la scivolema polpo.
- “Por vin danki, mi fekis sur vian kapon dum la vojaĝo. Vi estas ja plej stulta kaj malbela besto, kiun mi konas,” diris la rato, forirante al la arbaro.
La polpo, humiligita, ĵuris, ke li dum sia tuta vivo gvatos la raton, kaj kiam ĝi alproksimiĝos al la akvo por manĝi konkaĵojn, kaptos ĝin per siaj longaj tentakloj, subakvikigos kaj manĝos ĝin.
De tiu tempo, homoj kunligas nigrajn ŝtonetojn, kiuj similas al rato por kapti polpon.
La knabo dankis al la eminentulo kaj, preninte el sia poŝo ŝnureton, ekserĉis sur la marbordo nigran ŝtonon similan al rato. Lia panjo certe, estos kontenta, ke li kaptu polpon por la vespermanĝo.
De tiu tempo, en Novkaledonio, oni kaptas polpon per nigra ŝtono simila al rato.
 
 estas novkaledonia legendo, trovita sur la Iperniti paĝo de Patrick kaj Sandrine
 
Kanaka legendo el NovKaledonio.
Verkita de Patrick, tradukita de Sandrine
 
SỰ TÍCH CON BẠCH TUỘC VÀ CON CHUỘT CỐNG
Một cậu bé dạo chơi trên bãi biển, cậu chợt trông thấy một ông già dùng dây buộc một hòn đá tròn màu đen, Ngạc nhiên, cậu lại gần và lễ phép hỏi:
- “ Thưa ông, tại sao ông lại buộc dây vào hòn đá này?” Ông già nhìn cậu vừa cười vừa trả lời: “Đồ quỷ sứ, để bắt bạch tuộc đấy”.
- “Ông bắt bạch tuộc bằng hòn đá à?” cậu bé nghi ngờ hỏi.
- “Phải, nhưng không phải bằng bất cứ hòn đá nào. Chỉ hòn đó trông giống con chuột cống để đánh lừa bạch thuộc. Vậy cháu không biết sự tích về con bạch tuộc và con chuột cống à?”
- “Không ạ”, cậu bé trả lời.
- “Hãy ngồi xuống đây và hãy nghe”, ông lão khoan thai nói.
- “Ngày xửa ngày xưa, trên một hòn đảo xanh tươi, nhiều con vật chung sống hòa bình. Trên thực tế, gần như hòa bình thôi, vì trong số đó có một con chuột cống luôn luôn vu khống những con vật khác. Nó lải nhải nói rằng nó là con vật thông minh nhất, vì thế, các con vật khác nhất thiết phải cưu mang nó. Nó quá thông minh để tự nuôi sống mình bằng lao động, vì vậy nó ăn cắp trứng, phá tổ và ổ của của các con, tấn công các con con, đào hang và gậm rễ cây.
Nó hành động xấu xa đến nỗi tòan bộ hòn đảo phẫn nộ và hô vang như sấm. Mạnh đến nỗi núi lửa xuất hiện, phun lửa.
Mọi con vật chạy trốn sang hòn đảo bên cạnh, con thì bay, con thì bơi, trừ chuột cống chẳng biết bay cũng chẳng biết bơi. No van khóc xin các con khác cho nó đi cùng.
-         “Hãy thương tôi, các bạn hãy cho tôi đi cùng sang hòn đảo bên!”
-         “Mày có thương trứng của tao đâu?”. Và chom bồ câu bay đi….
-         “Rùa ơi, anh hãy để tôi leo lên lưnh anh để sang hòn đảo bên”.
-         “Hằng năm mày phá tổ của tao, ăn trứng của tao, và cướp đàn con của tao”. Và rùa lặn xuống nước.
Chuột cống hốt hoảng, cầu cứu mọi con vật, biết bơi hay biết bay. Nhưng tất cả các con đều nhớ tính xấu của chuột cống, đều từ chối và bỏ đi. Tất cả trừ một con. Con bạch tuộc, vì sống dưới nước nên chưa từng nếm mùi độc ác của chuột cống.
Thoạt trông thấy bạch tộc, chuột cống cầu xin sự giúp đỡ. Bạch tuộc biết về tai tiếng xấu xa của chuột cống do dự, tuy nhiên nó coi rằng chuột cống chưa làm điệu hại đối với nó.
-         “Anh có hứa rằng trong tương lai, anh sẽ tôn trọng mọi người?” nó nói với chuột cống.
-         “Tôi xin hứa”, chuột cống vội trả lời.
-         “Vậy anh hãy trèo lên đầu tôi. Tôi sẽ đưa anh sang hòn đảo bên”.
Sự việc diễn ra như vậy. Tuy nhiên, trong suốt hành trình, chuột cống cười vang.
-         “Tại sao anh cười như vậy?”, bạch tuộc hỏi.
-         “Chỉ vì tôi hạnh phúc được đi cùng một người bạn đẹp và cao thượng như anh:.
Bạch tuộc thì bơi, còn chuột cống cười to hơn.
-         “Tại sao anh tiếp tục cười?” bạch tuộc lại hỏi.
-         - “Bới vì sắp đến đảo, và vì vậy tôi sung sướng”, chuột cống trả lời.
Bạch tuộc tới bãi biển. Chuột cống nháy xuống, ngày càng cười to, và nó nói với bạch tuộc:
-         “Anh có biết tại sao tôi vui vẻ đến thế không?”
-         “Tất nhiên”, bạch tuộc trả lời, tò mò muốn biết.
-         “Để cám ơn anh, tôi đã ỉa lên đầu anh trong suốt cuộc hành trình. Anh là con vật ngu đần và xấu xí nhất mà tôi biết”, chuột cống nói và bỏ đi vào rừng.
Bạch tuộc bị xỉ nhục, thề rằng, suốt đời nó sẽ rình chuột, và khi nào chuột lại gần nước để ăn sò ốc, nó sẽ bắt chuột bằng những xúc tu dài của nó, lôi nó xuống nước và ăn thịt nó.
Từ ngày đó, con gười thường buộc dây vào những hòn đá nhỏ màu đen trông giống cuột cống để bắt bạch tuộc.
Cậu bé cám ơn cụ già đáng kinh, rồi lấy ra từ trong túi một sợi dây, cậu đi tìm ở bãi biển một hòn đá màu đen trông giống chuột cống. Mẹ cậu chắc sẽ hài lòng vì cậu bắt được bạch tuộc cho bữa ăn tối.
Từ đó, ở Tân Calêđôni, người tá bắt bạch tuộc bằng hòn đá màu đen trông giống chuột cống.
 
Sự tích của người Kanak, Tân Caleđôni
Dịch: Nguyễn Xuân Thu
 
 
 nguồn: trang ipernity của Patrick và Sandrine

 

 
 

1282936317_offline.php
Lượt truy cập: 136836
Tổng bài viết: 153
IP truy cập: 38.107.191.103
User :
Pass :
  Viet bai