» Tin nóng
BÀI PHÁT BIỂU Tại lễ tặng kỷ niệm chương cho ông Osmo Tapani Buller,
Trao kỷ niệm chương cho ông Osmo Tapani Buller
Hoạt động của hai ông Osmo Buller và Clay Magalhaes tại Hà Nội.
Báo cáo về UK 95 và IJK 66
CHƯƠNG II: TUỔI THƠ Ở BJALISTOK
Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2010
Cuộc họp 6 tháng đầu năm của VEA
Quy chế Đại hội của UEA (1)
Quy chế Đại hội của UEA (2)
Những hoạt động đầu tiên của đ/c Hoàng Ngọc Bội
11/09/2010
Góc học tập
Lời khẩn cầu của Rừng - La Preĝo de la Arbaro Nguồn: vea.vn (27/01/2009) Lần đọc: 938
Bài thơ về bảo vệ rừng

 

 

 
Mi ĵus legis en la numeroj 320 kaj 322 de la revuo Xua va Nay (Hieraŭ kaj Hodiaŭ) – iu revuo pri historio – du artikolojn pri la urbo Da Lat (sud Vjetnamio). Estis publikita foto de ligna tabulo, montranta la poemon “Preĝo de la Arbaro”. La tabulo ŝajnas ekzisti en la jaroj 1930. Sed pro detruo far la tempo kaj la eventoj, ĝi delonge ne plu ekzistas, sed iu loĝinto de Da Lat urbo, s-ro Luong Hoe (93 jaraĝa,ankoraŭ vivanta) kopiis la tekston en sia notlibreto kaj fotis la tabulon. La teksto estis montrita en la revuo. Oni scias nek la nomon de la aŭtoro, nek ĝian devenon.
        Pro intereso al la franca kulturo, mi provis serĉi per Guglo serĉilo kaj hazarde trovis 2 retejojn kiuj reproduktas la poemon. Mi tre feliĉas klare legi la tekston kaj havi konfirmon de ĝia ekzisto. La du posedantoj de la retejo al kiu mi min turnis, respondis al mi, ke temas pri poemo ĉu kopiita de iu revuo sen mencio de la aŭtoro, ĉu buŝe transdonita de maljuna arbohakisto ĉirkaŭ dudek jarojn antaŭe. Nur unu informo t.e. ke ĝi estis montrita ĉe la enirpordo de la pavilono de Jugoslavio de la Universala Ekspozicio de 1937 en Parizo.
       Estas interese noti, ke la prizorgo pri la protektado de la medio datiĝas de pli ol 70 jaroj. Por la esperanta komunumo, mi prezentas la foton de la tabulo kaj mian tradukon de la poemo.
NXT
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Gần đây tôi đã đọc trong các số 320 và 322 tạp chí Xưa và Nay hai bài viết về thành phố Đà Lạt, trong đó có đăng ảnh một tấm bảng gỗ với bài thơ “Lời thỉnh cầu của rừng”, bằng tiếng Pháp. Tấm bảng có từ những năm 1930, nhưng qua thời gian và biến đổi của thời cuộc, không còn nữa. Nhưng một cư dân thành phố Đà Lạt, cụ Lương Hòe (93 tuổi, còn sống) đã chép bài thơ này vào sổ tay và chụp ảnh tấm bảng. Tạp chí đã giới thiệu nguyên bản bài thơ và lời dịch của nhà báo Phú Bình. Người ta không biết tên tác giả bài thơ cũng như xuất xứ của nó.
           
        Vì quan tâm đến văn hóa Pháp, tôi đã thử tìm bằng cong cụ tìm kiếm Google và đã tìm thấy 2 trang web ghi lại bài thơ đó. Tôi thích thú được đọc văn bản và được khẳng định về sự tồn tại của nó. Hai người sở hữu trang web khi được tôi hỏi, đều trả lời rằng đó là một bài thơ hoặc được chép lại từ một tạp chí, không ghi tên tác giả, hoặc được truyền miệng bởi một thợ đốn gỗ già, khoảng 20 năm trước đây. Chỉ có một thông tin, đó là bài thơ được trình bày tại cổng vào gian triển lãm của Nam Tư tại Hội chợ Quốc tế năm 1937 tại Paris.
            Điều đáng chú ý là việc bảo vệ môi trường đã là mối quan tâm từ cách đây hơn 70 năm. Tôi xin dịch bài thơ đẻ giới thiệu với cộng đồng các nhà QTN.
 
 
 
NXT
 
 
Esperanto
Français
Tiếng Việt
 
LA PREĜO DE LA ARBARO
Homo!
Mi estas la varmo de via hejmo
dum frostaj vintraj noktoj,
la ombro amika kiam brulas la somera suno.
Mi estas la ĉarpentaĵo de via domo,
la planko de la tablo.
Mi estas la lito en kiu vi dormas kaj
La ligno per kiu vi faras viajn ŝipojn.
Mi estas la tenilo de la sarkilo
kaj la pordo de via ĉirkaŭbarilo.
Mi estas la ligno de via lulilo
kaj de via ĉerko.
Aŭdu mian preĝon,
Ne detruu min!
 
Elfrancigis Nguyen Xuan Thu
 
 
LA PRIÈRE DE LA FORÊT
Homme !
Je suis la chaleur de ton foyer
par les froides nuits d’hiver,
l’ombrage ami
lorsque brûle le soleil d’été.
Je suis la charpente de ta maison,
le plancher de la table.
Je suis le lit dans lequel tu dors
et le bois dont tu fais les navires.
Je suis le manche de la houe
et la porte de ton enclos.
Je suis le bois de ton berceau
et de ton cercueil.
Ecoute ma prière,
Ne me détruis pas !
 
 
LỜI KHẨN CẦU CỦA RỪNG
Hỡi Người!
Tôi là hơi nóng của bếp anh
trong những đêm đông lạnh,
là bóng mát thân quen
khi trời hè thiêu đốt.
Tôi là sườn nhà anh,
là tấm ván bàn (của) anh.
Tôi là giường để anh nằm
và (là) gỗ mà anh đóng tàu.
Tôi là cán của cuốc anh và (là)
cửa của rào anh.
Tôi là gỗ của (chiếc) nôi anh (nằm)
và của quan tài anh (khi chết).
 Hãy nghe lời khẩn cầu của tôi:
Đừng hủy diệt tôi!
 
 
Phú Bình (tạm dịch)
 
 
 
 
 

1282936317_offline.php
Lượt truy cập: 136836
Tổng bài viết: 153
IP truy cập: 38.107.191.103
User :
Pass :
  Viet bai